Những người đứng đầu Quốc hội Việt Nam (phần 1)

Kể từ ngày cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (6/1/1946), Quốc hội Việt Nam đã trải qua hơn 60 năm với 11 khoá hoạt động. Cùng với quá trình khẳng định vai trò quan trọng là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực cao nhất nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội còn ghi nhận vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với những vị lãnh đạo đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử của Quốc hội.Nguyễn Văn Tố – Trưởng ban Thường trực Quốc hội khoá I (02/3/1946 – 8/11/1946)

Cụ Nguyễn Văn Tố, bút hiệu Ứng Hoè, sinh ngày 5/6/1889, quê ở Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Thuở nhỏ cụ học chữ Hán sau chuyển sang Tây học, sau khi đỗ bằng Thành Chung (Trung học), cụ làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Cụ từng làm Hội trưởng hội Trí Tri, Hội truyền bá chữ Quốc ngữ trước năm 1945 và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, in trên các tạp chí như “Trí Tri”, “Trí Tân”, “Viễn Đông Bác Cổ” xuất bản ở Hà Nội thời bấy giờ. Cụ là người luôn đau đáu với việc làm sử Việt Nam và luôn mong nước nhà có được những cuốn sử thật giá trị.Cụ vốn là Bộ trưởng Bộ cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời thành lập tháng 8/1945, sau trở thành đại biểu Quốc hội tỉnh Nam Định. Là một trí thức có uy tín, một nhà văn, nhà sử học lớn, cụ đã góp phần tập hợp nhân sĩ trí thức đoàn kết cùng nhau gánh vác công việc của Quốc hội.

Ngày 2/3/1946, trong kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, cụ được bầu làm Trưởng ban thường trực Quốc hội đầu tiên. Ủy ban thường trực Quốc hội được thành lập với nhiệm vụ thay mặt Quốc hội góp ý kiến với Chính phủ, thậm chí phê bình nếu Chính phủ đi ngược lại quyền lợi quốc dân và triệu tập Quốc hội khi cần thiết.

Tại kỳ họp thứ 2 quốc hội khóa I (28/10-9/11/1946), cụ Nguyễn Văn Tố đã thay mặt Quốc hội khẳng định quyết tâm giành độc lập và thống nhất đất nước. Cũng tại kỳ họp này, cụ thôi giữ chức Trưởng ban thường trực Quốc hội và sau đó tham gia Chính phủ mới thành lập ngày 3/11/1946 với chức danh Bộ trưởng không bộ.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, cụ cùng Chính phủ rút lên Việt Bắc. Ngày 7/10/1947, cụ bị thực dân Pháp bắt và đã hy sinh tại Bắc Kạn. Cụ là một nhân sĩ yêu nước, luôn sống giản dị và hoà đồng, dù khi làm học giả trong chính quyền thuộc địa hay khi tham gia cách mạng. Để tưởng nhớ vong linh cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Lời điếu cụ Tố” ca ngợi tài năng và phẩm chất của người nhân sĩ này”

“Văn chương thuần túy, học vấn cao sâu
Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết
Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng
Phú quý, công danh, cụ nào có thiết
Đến ngày dân tộc giải phóng thành công
Thì cụ sẵn sàng ra tay giúp việc”

và ghi nhận công lao to lớn của cụ đối với Chính phủ và Quốc hội:

“Giữ chức Bộ trưởng thì cụ ngày càng gần gũi nhân dân
Đại biểu Quốc hội thì cụ luôn luôn tính bàn kiến thiết”

Bùi Bằng Ðoàn – Trưởng ban Thường trực Quốc hội Khoá I (09/11/1946 – 19/9/1955)

Cụ Bùi Bằng Đoàn được Chỉ tịch Hồ Chí Minh coi là một bậc đại thần “triều ẩn lập thân hành thiện” – làm quan lớn trong chế độ cũ nhưng một lòng thanh liêm, yêu nước thương dân.Khi đọc được bức thư “Tìm người tài đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc số 411, ngày 20/11/1946, với niềm hạnh phúc của một người “làm quan từ thuở ngoài hai mươi tuổi của cái thời nước mất, ngoại bang đô hộ; hơn ba mươi năm ở ghế quan trường dưới ba đời vua “An Nam” giờ đã được nhìn thấy đất nước độc lập, tự do, cụ đã đồng ý ra “giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc”.Cụ tham gia Quốc hội với tư cách đại biểu Hà Đông và được bầu làm Trưởng ban thường vụ Quốc hội tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I ngày 9/11/1946.

Trong suốt thời gian phục vụ cách mạng, cụ Bùi cùng các nhân sĩ yêu nước như Phan Kế Toại, Vi Văn Định luôn sát cánh bên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ, kể cả khi ốm bệnh. Năm 1948, cụ bị ốm nặng và phải đi chữa bệnh. Cụ từ trần ngày 13/4/1955 sau một thời gian dài ốm nặng mà vẫn cố gắng góp phần vào công việc của Quốc hội, làm tròn nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân.

Thư “Tìm người tài đức” của Chỉ tịch Hồ Chí Minh:“Nước nhà cần phải được kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức.E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở.

Hẹn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam

Hồ Chí Minh

Tôn Ðức Thắng – Trưởng ban Thường trực Quốc hội Khoá I (20/9/1955 – hết khóa I)

Ông từng giữ chức Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội trong thời gian cụ Bùi Đằng Đoàn giữ chức Trưởng ban. Ông được bầu làm Trưởng ban tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I ngày 20/9/1955. Trong kỳ họp thứ sáu diễn ra từ 29/12/1956 đến 25/1/1957, ông đã thay mặt Quốc hội đứng ra nhận lỗi trước quốc dân đồng bào về một số sai lầm nghiêm trọng và kéo dài trong công cuộc cải cách ruộng đất.Trong thời gian công tác của ông với tư cách Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Quốc hội đã có một sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại: thông qua bản Hiến pháp mới ngày 31/12/1959. Hiến pháp năm 1959 đánh dấu một thời kỳ cách mạng mới của đất nước khi đồng bào miền Bắc thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và đồng bào miền Nam đấu tranh đòi tự do dân chủ và thống nhất nước nhà.Tôn Đức Thắng là vị Trưởng ban Thường trực cuối cùng trong hành trình 14 năm hoạt động đầy thử thách, cam go nhưng cũng có nhiều thắng lợi to lớn của Quốc hội khóa I – “Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”. Về sau cụ còn đảm trách các chức vụ Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tôn Đức Thắng là một người chiến sĩ cách mạng kiên trung, gan dạ. Cuối năm 1929, ông bị mật thám Pháp bắt, đưa về Khám lớn Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng khai thác thông tin về cách mạng. Nhưng chúng đã thất bại trước khí phách kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Chúng kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo. Ở nơi “địa ngục trần gian”, Tôn Đức Thắng vẫn vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, tiếp tục lãnh đạo các đồng chí trong tù đấu tranh.

Trước đó, năm 1919, ông đã tham gia cuộc binh biến ở Biển Đen để bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết trẻ tuổi, bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng 10. Hành động ấy của một người thanh niên thuộc địa đã được nhân dân Liên Xô cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới khâm phục, ngợi ca.

Tôn Đức Thắng còn là tấm gương sáng về lối sống giản dị, tình nghĩa, yêu lao động và gần gũi với nhân dân. Ông được tặng thưởng Huân chương Sao vàng năm 1958, nhâp dịp ông 70 tuổi và là người đầu tiên được tặng Huân chương này. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI và từ trần ngày 30/3/1980.

Trường Chinh – Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (khoá II, III, IV, V, VI)

Trường Chinh (9/2/1907 – 30/9/1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ra trong một gia đình truyền thống Nho học nổi tiếng của một làng khoa cử lừng danh cả nước – làng Hành Thiện thuộc tổng Xuân Trường, tỉnh Nam Định.Năm 1925–1926, khi còn là học sinh, ông đã tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, lãnh đạo cuộc bãi khóa ở Nam Định để truy điệu cụ Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1927, ông chuyển lên Hà Nội, học ở trường Cao đẳng Thương mại và tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1929, ông tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ. Năm 1930, ông được chỉ định vào Ban tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm này, ông bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù và đày đi Sơn La, đến năm 1936 ông được trả tự do.Năm 1960, ông được Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu làm Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội và giữ chức vụ này trong Quốc hội Việt Nam thống nhất cho đến năm 1981.

Ông từng hai lần giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam vào các giai đoạn 1941 – 1956 và từ tháng 7 đến tháng 12/1986. Ông còn là một nhà thơ với bút danh Sóng Hồng và đã viết nhiều tác phẩm về các vấn đề của cách mạng Việt Nam. Ông được nhà nước tặng Huân chương Sao vàng và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ông mất ngày 30/9/1988, thọ 81 tuổi.

Ông là một nhà lãnh đạo cẩn trọng, nghiêm nghị và mực thước. Rất “cứng” nhưng ông chính là người được nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đánh giá là “người chủ biên của công cuộc đổi mới” – bước chuyển quan trọng của đất nước được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986.

Giữ chức Chủ tịch Quốc hội liên tiếp các hoá II, III, IV, V, VI, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và nhà nước, Trường Chinh là một nhà lãnh đạo uyên thâm, đáng kính, là tấm gương lớn về nghị lực, nguyên tắc để các thế hệ lãnh đạo đi sau noi theo.

(còn nữa)
Thủy Chung
tổng hợp

Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Không có bình luận

Comments RSS TrackBack Identifier URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

  • “Tôi không lo lắng về những gì các đối thủ cạnh tranh đang làm; Tôi chỉ lo lắng về những gì chúng tôi đang làm”

  • Lịch

    Tháng Năm 2007
    H B T N S B C
        Th6 »
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28293031  
  • Hình ảnh

  • Danh mục bài viết