Những người đứng đầu Quốc hội Việt Nam (phần 2)

Kể từ ngày nước nhà thống nhất đến khi công cuộc đổi mới thổi luồng gió mở cửa năng động vào đời sống kinh tế – xã hội, Quốc hội Việt Nam đã theo sát từng bước phát triển của đất nước để ngày càng hoàn thiện hơn nữa công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề trong đại. Các vị Chủ tịch Quốc hội cũng ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc đổi mới hoạt động của Quốc hội để theo kịp thực tiễn phát triển và hội nhập của đất nước.Nguyễn Hữu Thọ – Chủ tịch Quốc hội Khoá VII

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sinh ngày 10/7/1910 tại Chợ Lớn (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Ông học luật ở Pháp 11 năm và trở về nước năm 1933. Hành nghề luật sư khắp các tỉnh miền Tây, chứng kiến ách cai trị dã man của thực dân Pháp cũng như gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng, người luật sư trẻ vốn thông hiểu văn hóa Pháp hơn cả văn hóa Việt đã dần thay đổi.Nguyễn Hữu Thọ được nhận xét là một trí thức chân chính, luôn bảo vệ công lý, bênh vực người dân vô tội trước tòa án thực dân. Vì vậy các cán bộ cách mạng miền Nam đã quyết định thuyết phục người luật sư tài giỏi và chính nghĩa này về với cách mạng. Với khả năng tập hợp của mình, ông đã vận động được rất nhiều trí thức miền Nam tham gia đấu tranh chính trị công khai với thực dân Pháp.Tiêu biểu là năm 1947, ông đã vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo… ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn gửi Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cảm ơn hành động này và nhận định: “Sài Gòn – Chợ Lớn là nơi quân Pháp đang chiếm đóng. Tỏ lòng ái quốc là một sự nguy hiểm cho người Việt Nam. Thế mà hơn 700 trí thức và tư sản Việt Nam ở vùng đó đã bạo dạn ký giấy đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam”.

Ông đã bị thực dân Pháp bắt và giam giữ nhiều lần nhưng ở đâu ông cũng giữ khí phách của người trí thức cách mạng, được quần chúng yêu quý, che chở, bảo vệ. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt trong lúc đang lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn – Chợ Lớn và bị giam tại Phú Yên.

Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Đảng quyết định chọn Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch và chỉ đạo phải giải cứu ông bằng mọi giá. Ông trở thành Chủ tịch đầu tiên của tổ chức này sau khi được giải thoát khỏi nhà tù của kẻ thù năm 1961.Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất. Năm 1981, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khóa VII, tiếp tục đem bản lĩnh, tài năng, lòng yêu nước, yêu hòa bình phụng sự cho công việc của Quốc hội và sau này là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/12/1996.

“Ai cũng có một quê hương để yêu, một đất nước để bảo vệ và xây dựng, một dân tộc để phụng sự. Nhà trí thức không thể nghĩ khác, làm khác” – Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Lê Quang Ðạo – Chủ tịch Quốc hội Khoá VIII

Ông Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ngày 8/8/1921 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ sớm, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940 và nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền và quân đội.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958 và Trung tướng năm 1974. Năm 1976, ông được bầu làm Bí thư Trung ương Đảng và giữ chức vụ này đến năm 1986.Tháng 6/1987, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội và giữ chức vụ này đến năm 1992. Trên cương vị này, ông đã góp phần tích cực đưa đường lối đổi mới của đảng vào việc đối mới hoạt động của Quốc hội, nhất là đẩy mạnh công tác lập pháp và lập hiến. Ông đã có công lao không nhỏ cùng Quốc hội phấn đấu thông qua Hiến pháp sửa đổi 1992 đáp ứng đòi hỏi của cách mạng trong giai đoạn mới.Trong lãnh đạo và điều hành Quốc hội, ông luôn cố gắng phát huy trí tuệ tập thể, vừa đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa phát huy dân chủ để mọi đại biểu Quốc hội đều mạnh dạn nêu ý kiến của mình. Ông Đỗ Mười, Cố vấn Ban chấp hành trung ương Đảng, nguyên Tổng Bí thư, đã nhận định Quốc hội khóa VIII là Quốc hội mở đầu cho những tiến bộ trong trình độ của đại biểu Quốc hội cũng như chất lượng các kỳ họp.

Lê Quang Đạo là người lãnh đạo có uy tín, được nhân dân trong nước và quốc tế mến mộ. Trong công việc hàng ngày, ông là người giản dị, gần dân, khiêm tốn, luôn lắng nghe, nắm bắt đúng ý kiến của mọi người, khéo tìm ra điểm tương đồng trong các ý kiến để kết thúc tranh luận đúng lúc, được mọi người đồng tình. Ngoài ra ông còn có tài thuyết phục, vận động quần chúng và luôn có thái độ nghiêm túc trong công việc.

Lê Quang Đạo là một cán bộ ưu tú, đầy nhiệt huyết và trách nhiệm của Đảng, nhà nước, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc và quân đội Việt Nam. Sau năm 1992, ông chuyển sang làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc nhưng vẫn quan tâm đến công việc của Quốc hội và vẫn làm đại biểu Quốc hội khóa IX, X. Ông đã hăng say làm việc đến hơi thở cuối cùng. Ông đột ngột qua đời năm 1999 do bệnh tim giữa lúc đang hoàn thiện dự luật về Mặt trận Tổ quốc để trình Quốc hội.

“… Ít lâu nay, gần hết các tổ chức cứu quốc khắp nơi đều mắc phải cái tính ỷ lại tai hại ấy, tất cả các công việc ở một địa phương chỉ trông cậy vào một vài người hay có khi trông cả vào người cán bộ chuyên nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì nhiều anh chị nhầm tưởng rằng mình chỉ có chân trong hội là đủ, còn các công việc đều ở như thượng cấp cả. Có thể ví các anh chị em như cái bánh xe, như cả bộ máy, còn thượng cấp chỉ là cái tay lái mà thôi. Nếu các bánh xe rỉ nát thì cái tay lái có tốt mấy cũng vô ích”.(Ái Dân, bút danh của ông Lê Quang Đạo, “Việt Minh muốn tiến phải bỏ tính ỷ lại”, báo Cứu quốc, 17/4/1944)

Nông Ðức Mạnh – Chủ tịch Quốc hội Khoá IX, X (khoá X 20/9/1997 – 27/6/2001)

Ông Nông Đức Mạnh sinh ngày 11/9/1940 tại xã Cường Lợi, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn, là người dân tộc Tày. Ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1963. Tháng 9/1992, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khóa IX và giữ chức vụ này đến năm 2001 khi được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IX.Trong thời gian ông Nông Đức Mạnh nắm cương vị này, công việc của Quốc hội đã có những đổi mới nhất định, đặc biệt là công tác giám sát được đẩy mạnh. Chất vấn và trả lời chất vấn tại Quốc hội được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc. Đặc biệt là từ năm 1994 đến nay, các phiên chất vấn tại Quốc hội đã được phát thanh và truyền hình trực tiếp, tạo không khí cởi mở, đối thoại giữa người hỏi và người trả lời, được nhân dân quan tâm theo dõi và hoan nghênh.Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về các dự án luật, pháp lệnh cũng được Quốc hội tiếp tục coi trọng và có những đổi mới đáng kể nhằm phát huy trí tuệ của các tầng lớp nhân dân cả nước. Việc lấy ý kiến của đông đảo nhân dân về các dự án luật cùng với sự chuẩn bị và phối hợp giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã góp phần nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ của việc xem xét và thông qua dự án luật tại Quốc hội

“Tôi băn khoăn về cách thức tiếp xúc với cử tri, làm sao để có hiệu quả hơn, nghe được tiếng nói của nhiều thành phần dân cư hơn. Có thể không chỉ tiếp xúc với cử tri ở quận như hiện nay, mà tiếp xúc ở ngay tổ dân phố, ở những nơi tập trung đông dân cư, tiếp xúc ngay ở tại chợ và có thể tiếp xúc cả vào buổi tối để gặp gỡ những người ban ngày bận đi làm” – Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu khi tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 12/4/2002.

Nguyễn Văn An – Chủ tịch Quốc hội Khoá X (từ ngày 27/6/2001)

Ông Nguyễn Văn An sinh ngày 1/10/1937 tại xã Mỹ Tân, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Ông được kết nạp chính thức vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 14/8/1960. Tháng 6/2001, tại kỳ họp thứ chín Quốc hội khoá X, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội và giữ chức vụ này đến tháng 6/2006.Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đánh giá trên cương vị Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Văn An đã cùng Quốc hội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, góp phần quan trọng vào việc thực hiện có kết quả các chức năng và quyền hạn của Quốc hội về lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.Có thể nói trong thời gian ông Nguyễn Văn An điều hành, Quốc hội đã có những tiến bộ lớn trong chất lượng các kỳ họp, đặc biệt là tiếp tục nâng cao hiệu quả các buổi chất vấn giữa đại biểu Quốc hội với các thành viên chính phủ. Những vấn đề bức xúc trong đời sống kinh tế xã hội đã được kịp thời đưa vào nghị trường, tạo nên những buổi chất vấn sôi nổi, đầy tính chiến đấu và ngày càng công khai, minh bạch và thực chất.

Tại kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa XI, ông đề nghị được từ nhiệm chức Chủ tịch Quốc hội do tuổi cao sức yếu và được Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận.

“Dân là chủ thì Dân phải làm chủ, Dân làm chủ thì Dân phải có quyền quyết định, đó là lẽ tự nhiên, nếu chưa làm được như thế thì Dân chưa làm chủ một cách đầy đủ và thực chất” – Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An.

Thủy Chung
tổng hợp

Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Không có bình luận

Comments RSS TrackBack Identifier URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

  • “Tôi không lo lắng về những gì các đối thủ cạnh tranh đang làm; Tôi chỉ lo lắng về những gì chúng tôi đang làm”

  • Lịch

    Tháng Năm 2007
    H B T N S B C
        Th6 »
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28293031  
  • Hình ảnh

  • Danh mục bài viết