Nguyễn Chí Thanh – Vị tướng của nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh

08:12′ 05/07/2007 (GMT+7)

Nói theo ngôn ngữ của lớp trẻ hiện nay, ông là một nhà lãnh đạo “đa-zi-năng”. Dù bàn luận chính trị, chỉ huy quân sự hay “xắn quần lội ruộng”, trao đổi văn chương, ông luôn tạo ấn tượng đặc biệt về một phong cách lãnh đạo bẩm sinh. Ông là Nguyễn Chí Thanh – vị đại tướng thứ hai của đất nước Việt Nam.

 

Hồ Chí Minh và  người học trò xuất sắc của mình – Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ảnh tư liệu

Ở đâu trên đất Việt cũng đều là quê hương

Chuyện kể rằng, tháng 8/1945, có một thanh niên trẻ tên là Nguyễn Vịnh được cử đi dự Hội nghị Đại biểu toàn quốc của Đảng ở Tân Trào.

Tại đây, tối ngày 13/8, Nguyễn Vịnh gặp Hồ Chí Minh. Trước khi nghe báo cáo tình hình chuẩn bị khởi nghĩa ở Thừa Thiên Huế, giữa lúc bộn bề công việc, Người bỗng quay sang hỏi: “Huế bây chừ sen có đẹp hơn, hội thả diều có vui hơn không?”.

Trong giây phút ấy, vị đại biểu đến từ miền Trung vốn rất “thật thà, gan góc và kiên quyết” bỗng xúc động lạ thường. Hoá ra vĩ nhân nào cũng có những ký ức tuổi thơ, cậu Nguyễn Sinh Cung nhìn thấy Nguyễn Vịnh như nhìn thấy quãng thời gian sống cùng cha mẹ ở Huế. Ngay lúc ấy, khoảng cách xa xôi về địa lý và tuổi tác giữa vị lãnh tụ vĩ đại và chàng bí thư trẻ không còn. Ai cũng nhận ra rằng, dù ở đâu tụ về thì họ cũng vẫn đang đứng trên mảnh đất quê hương và cùng chung lý tưởng cứu nước. Khoảnh khắc ấy, cho mãi đến sau này, Nguyễn Vịnh vẫn nhiều lần nhắc lại.

Cũng tại Hội nghị đó, trong hai ngày liên tiếp, Nguyễn Vịnh nhận thêm nhiều chuyện mới mẻ. Ở tuổi 31, ông được đề cử là Uỷ viên Trung ương, trực tiếp làm Bí thư Xứ uỷ Trung kỳ và phụ trách công tác Lào Miên.

Tuy nhiên, bất ngờ hơn cả là ông được Bác tặng cho… cái tên mới. Lúc danh sách các uỷ viên trung ương vừa được công bố thì mọi người cùng phát hiện ra rằng có một cái tên rất lạ: Nguyễn Chí Thanh.

Rất ngạc nhiên, Nguyễn Vịnh hỏi đó là ai thì đồng chí Tống (tên gọi của Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi đó) trả lời: Nguyễn Chí Thanh chính là tên của Vịnh. Đảng và Bác đã chọn cái tên đó để giữ được bí mật cho Vịnh và cho cách mạng sau này.

Từ ấy, cái tên đó đi theo ông trong suốt cuộc đời, dù ngắn ngủi đối với một con người nhưng lại bất tận đối với non sông.

***

Ông sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình nông dân tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Đức, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cha mất sớm, nhà đông anh em nên từ nhỏ, Nguyễn Vịnh đã đi làm thuê để kiếm sống và giúp mẹ. “Đi cách mạng” từ tuổi 20, năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Thừa Thiên ngay trong năm 1938.

Suốt từ đó đến năm 1945, Nguyễn Vịnh trở thành cái tên quen thuộc trong hồ sơ của thực dân Pháp, bởi ông bị bắt giam đến 3 lần. Và từ đây, bản lĩnh một đại tướng, một nhà lãnh đạo trong ông bắt đầu toả sáng.

Con người có chất tướng bẩm sinh

Trong những năm 1946-1947, trước sức mạnh ban đầu của thực dân Pháp, nhân dân khu vực Bình – Trị – Thiên gần như rơi vào tình trạng choáng ngợp, bị đàn áp, khủng bố, xoá trắng cơ sở Đảng ở địa phương, mất quyền kiểm soát từ khu vực nông thôn đến thành thị. Tình thế yêu cầu một nhà lãnh đạo kiên gan, có óc chiến lược và bản lĩnh làm điểm tựa cho phong trào. Nguyễn Chí Thanh chính là người đã ghánh vác trọng trách ấy.

Ông khẳng định: “Mất đất chưa phải là mất nước, chúng ta phải tranh thủ từng người thôn, từng người dân. Không thể mất dân, chết cũng không rời cơ sở”. Câu nói của ông tại Hội nghị Nam Dương (3/1947) đã trở thành cơ sở lý luận, bản thân ông trở thành “linh hồn của cuộc kháng chiến Bình Trị Thiên” suốt giai đoạn đầu của kháng chiến chống Pháp.

Kiên trì quan điểm lấy dân làm gốc ấy, dù là thời gian đó và cả sau này, mỗi khi đi công tác địa phương, bao giờ ông cũng dành ngày đầu tiên để vi hành nắm tình hình trước: mặc bộ quần áo bà ba đen hoặc nâu, đội chiếc nón lá, la cà khắp quán chợ, nói chuyện với ông thợ rèn, bà bán bánh cuốn, bà bán hàng nước. Chỉ khi nào nắm rõ những thông tin cần thiết, ông mới bắt đầu triển khai kế hoạch sao cho hiệu quả nhất.

Quyết đoán và sắc sảo, càng về sau, niềm tin mà quân dân dành cho ông càng lớn: dù khi ông đứng trên cương vị Trưởng ban Canh nông (1962-1964) hay sau này, khi ông được điều vào Nam chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ (1964-1967), sự có mặt của ông được coi như một dấu hiệu của niềm tin chiến thắng trước những thách thức phức tạp.

Làm lãnh đạo là không ngừng học hỏi

Tháng 7/1950, Nguyễn Chí Thanh lên Việt Bắc. Với bản lĩnh được thắp sáng trong cuộc chiến Bình – Trị – Thiên, ông được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam – cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và

Trên cương vị là người chịu trách nhiệm xây dựng và củng cố tinh thần cho quân đội, ông đặc biệt chú trọng nâng cao bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, nhấn mạnh mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tài năng và đạo đức trong cuộc chiến tranh nhân dân. Bản thân ông luôn tâm niệm lời nhắc nhở của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải đào tạo một đội ngũ cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc. Có thế Đảng mới thành công”.

Ông Hoàng Xuân Thái – một lão thành cách mạng ở Hà Nội, nguyên là cán bộ ban huấn luyện Trung ương, kể lại: “Anh Thanh chỉ làm việc ở Ban một thời gian ngắn nhưng những vấn đề anh giải quyết đều là những vấn đề “nóng bỏng” lúc đó: ổn định tổ chức, xây dựng và củng cố sự đoàn kết. Song quan trọng nhất là việc điều chỉnh lại phương thức và tổ chức chương trình huấn luyện cán bộ. Theo lời Bác Hồ dặn: Mở lớp nào cho ra lớp ấy. Lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận. Mục tiêu đó đã được anh Thanh quán triệt đến từng cán bộ trong cơ quan”.

Với sự nhạy cảm của một con người có tư chất “làm tướng”, ông rất chú trọng nâng cao bản chất cách mạng của quân đội nhân dân, đưa công tác chính trị – tư tưởng trong quân đội lên một tầm cao mới. Kết quả của những nỗ lực này, đã góp phần tạo ra một bước chuyển biến mới trong nhận thức và hoạt động thực tiễn trong toàn quân. Từ đó, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ.

Với thành tích đó, ngày 31/8/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp đại tướng cho ông. Trong buổi lễ phong quân hàm, Bác còn dặn thêm: “Dù ở cương vị nào chúng ta cũng phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tuỵ của nhân dân”.

Tuy vậy, đối với Nguyễn Chí Thanh, để thực sự làm được “người đầy tớ của nhân dân”, lãnh đạo phải không ngừng học hỏi.

Nhận thức rõ bản thân mình không được học bài bản ở trường lớp, nên bên cạnh việc chịu khó bổ sung kiến thức các mảng cho mình thông qua đọc sách, ông không ngại đề nghị cấp dưới, đồng nghiệp có hiểu biết về một lĩnh vực chuyên môn nào đó “gia sư” cho mình. 

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông còn mời Hải Triều – một triết gia, Trần Hoàn – hồi đó còn là một nhạc sĩ trẻ và Ngô Kế Chí giảng bài cho mình. Ông nói với họ: “Phải học chứ, hết vốn rồi, cạn kiệt rồi. Phải học, không học, không làm được đâu”.

Sau này, khi được bổ nhiệm là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông còn thẳng thắn bày tỏ ý muốn Hoàng Cầm làm giáo viên dạy cho mình: “Anh Hoàng Cầm ạ, tôi rất dốt về văn nghệ. Từ lúc 16 tuổi chỉ biết yêu nước, yêu dân và lo việc đánh giặc xâm lược. Không biết gì về văn chương, nghệ thuật thì lãnh đạo thế nào được văn nghệ sĩ? Mà trong tổng cục anh em văn nghệ sĩ rất đông”.

Vị tướng trên các chiến trường

 

Gần 8 năm sau khi ông qua đời, khát khao thống nhất đất nước trong ánh mắt này của ông mới trở thành hiện thực. Ảnh tư liệu

Trước yêu cầu mới của cuộc cách mạng, từ năm 1961 đại tướng Nguyễn Chí Thanh giữ cương vị Trưởng ban công tác Nông thôn trung ương (Ban Nông nghiệp Trung ương ngày nay). Có thể nói, ông là một Trưởng ban Canh nông – một ông tướng nông dân – để lại ấn tượng đẹp đẽ, sâu đậm trong long dân chúng.

Với tác phong sâu sát, ông tìm đến những điển hình trong sản xuất nông nghiệp để, rồi từ đó phát động các phong trào thi đua. Những ngôi làng như Đại Phong (Quảng Bình), Tòng Bạt (Sơn Tây)… vẫn còn ghi dấu ấn của ông. Người dân Tòng Bạt còn coi ngày ông về thăm và làm việc là mốc đánh dấu “một cuộc đổi đời, thay đổi cả cách làm, cách nghĩ”.

Tháng 3/1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị cử vào tăng cường cho cách mạng miền Nam, phụ trách Trung ương cục miền và Chính uỷ Quân uỷ miền. Đó cũng là thời điểm, Mỹ cho quân đổ bộ vào miền Nam, đặt nhiều người Việt Nam trước những câu hỏi lớn: liệu ta có đánh nổi Mỹ không và phải đánh bằng cách nào. Và ông đã giúp quân dân cả nước vững tin bước vào cuộc chiến với cường quốc số 1 thế giới với một câu nói giản dị: “Phương châm đánh Mỹ à? Chúng ta đã đánh Mỹ bao giờ đâu mà có phương châm? Phương châm là Mỹ nó đến là ngay lập tức đánh – và nhờ thế rồi mới có phương châm được”.

Vừa đánh, vừa tìm kiếm. Và những trận thắng ban đầu của quân ta ở Núi Thành, Vạn Tường, Đất Cuốc, Bàu Bàng đã mang đến cho các nhà lãnh đạo cuộc chiến một nhận định rõ ràng về điểm yếu và điểm mạnh thực sự của quân địch. Từ đó, chiến thuật “bám thắt lưng địch mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” ra đời.

Hiểu địch, hiểu ta. Sau hai thắng lợi mùa khô 1965-1966, 1966-1967, vị tướng đã từng là được coi là “Cứu tinh của Bình – Trị – Thiên” này đã sớm tin chắc vào một chiến thắng cuối cùng trước quân Mỹ.

Cuối năm 1966, để cùng Bộ Chính trị họp bàn chuẩn bị đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ sang một giai đoạn mới, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra Bắc. Đầu năm 1967, ông chuẩn bị quay lại chiến trường. Mọi việc đã sẵn sàng nhưng có ai hay đó lại là những ngày cuối cùng của ông.

Ông bố “ngại” mắng con

Cương nghị, quyết đoán trong công việc, nhưng khi trở về với cuộc sống thường nhật, Nguyễn Chí Thanh luôn là một ông bố vui tính, nói cười rổn rảng suốt cả ngày. Ông rất yêu văn chương, thích chụp ảnh, ưa hò Huế và luôn cư xử với người thân bằng một cá tính sôi nổi, thân mật và giản dị.

Trong ký ức của những người đồng đội, thời kỳ còn công tác tại Bình – Trị – Thiên, cứ đến ngày nghỉ hoặc tối thứ Bẩy, ông lại tụ tập anh em trong cơ quan làm một buổi văn nghệ “cây nhà lá vườn”. Bằng giọng cao, thanh, ông hò “ngọt” những bài hò Huế, hò Mái Nhì, hò Khoan rồi cùng tất cả anh em tự thưởng thức văn nghệ sau những giờ chiến đấu căng thẳng.

Sau này, công tác ở các vị trí cao hơn, bận rộn hơn, không có dịp cho những buổi văn nghệ tập thể như vậy, ông vẫn không bỏ niềm yêu thích này, vẫn đọc ca dao Huế và hò, và khán giả là… các con của mình. Có đợt đi công tác Liên Xô sắm được chiếc đĩa hát, ông mang về và lập tức lôi cả nhà ra… nhảy.

Trong ký ức của các con, ông là người rất thương trẻ nhỏ. Dù nổi tiếng nghiêm khắc nhưng ông chưa bao giờ mắng mỏ ai. Bởi bao nhiêu sự cần phải rầy la ông đều … nhường phần vợ. Lần nào đi công tác nông thôn về, có chuyện gì vui, ông lại say sưa kể cho các con nghe.

Ngoài tài làm thơ, Nguyễn Chí Thanh còn nổi tiếng là một người thích đọc sách, say mê văn học. Không chỉ thuộc làu các câu ca dao Huế, truyện Kiều, ông còn tận dụng mọi cơ hội để trang bị thêm kiến thức về văn học thế giới.

Có lần, trên đường đi công tác, đọc thấy “Tuyển tập kịch Shakespears” mới phát hành, ông tranh thủ ghé vào mua, giờ nghỉ trưa bỏ ra đọc. Đến giờ đi làm, ông lại chuyển cho người cần vụ coi để ông có thêm người trao đổi khi có thời gian. 

***

Ngày 6/7/1967, ông đột ngột qua đời vì bị tắc động mạch vành, bỏ lại nhiều kế hoạch dang dở.

Nhớ thương ông, bộ đội Trường Sơn đặt tên một đỉnh dốc cao trên con đường huyền thoại mang tên Bác là dốc Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay, ngoài con đường đẹp nhất thành phố Hà Nội mang tên ông, nếu có dịp đến Thừa Thiên Huế, bạn sẽ thấy có một cây cầu, một trường học và cả một đường nữa cũng mang tên ông – Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Nguyễn Khánh Anh – M.C

Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Không có bình luận

Comments RSS TrackBack Identifier URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

  • “Tôi không lo lắng về những gì các đối thủ cạnh tranh đang làm; Tôi chỉ lo lắng về những gì chúng tôi đang làm”

  • Lịch

    Tháng Tám 2007
    H B T N S B C
    « Th6   Th11 »
     12345
    6789101112
    13141516171819
    20212223242526
    2728293031  
  • Hình ảnh

  • Danh mục bài viết