Vị Thủ tướng xây cầu cho quan hệ Việt-Ấn

07:57′ 04/07/2007 (GMT+7)

Không phải ngẫu nhiên ngày sinh của Thủ tướng Jawaharlal Nehru (14/11) lại trở thành ngày tết thiếu nhi ở Ấn Độ. Bởi đó là người con ưu tú của Ấn Độ, nhân vật vĩ đại đã có công không nhỏ trong việc tạo tác diện mạo của Ấn Độ hiện đại. Đó cũng là nhà lãnh đạo sớm nhìn thấy tầm quan trọng của mối quan hệ Việt-Ấn, đồng thời là người đặt nền móng lâu dài cho mối quan hệ hữu nghị này.

Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru. Ảnh: Corbis.

Người chiến sĩ đấu tranh cho tự do

16 tuổi, Nehru đã được cha cho sang du học ở Anh. Sau đó, ông lần lượt tốt nghiệp trung học Harrow, Đại học Tổng hợp Cambridge, Đại học Luật ở Inner Temple.

Khi Nehru từ Anh trở về quê nhà cũng là lúc phong trào dân tộc bắt đầu sôi sục ở Nam Á. Ông nhanh chóng gia nhập Đảng Quốc Đại và trở thành cánh tay đắc lực của M. Gandhi.

Mặc dù chịu khá nhiều ảnh hưởng từ Gandhi, nhưng Nehru không đồng tình với quan điểm Bất bạo động của Gandhi. Ông cho rằng, vì độc lập của Ấn Độ, phải làm tất cả mọi điều cần thiết. Quan điểm đó đã theo bước Nehru suốt 35 làm người chiến sĩ đấu tranh cho tự do và độc lập của Ấn Độ, 11 năm ngồi tù với 9 lần bị bắt giam. Đây chính là minh chứng sống động cho thấy tinh thần chiến đấu ngoan cường và thái độ quyết liệt của ông đối với Chính quyền thực dân Anh tại Ấn Độ lúc bấy giờ.

Tháng 6/1945, Nehru được thả. Ông lại tiếp tục đấu tranh giành độc lập cho Nam Á và giương cao khẩu hiệu: “Hoàn toàn độc lập cho Nam Á”. Ngày 3/7/1947, Kế hoạch Mounbatten về phân chia Nam Á thành 2 quốc gia tự trị Ấn Độ và Pakistan đã được thông qua. Dưới sự lãnh đạo của Nehru và Gandhi, tinh thần đấu tranh ngoan cường của người dân Nam Á và xu thế của thời đại, thực dân Anh buộc phải trao trả tự do cho khu vực này vào ngày 15/8/1947.

Khát vọng độc lập, tự do cho Ấn Độ của người lãnh đạo đã trở thành tinh thần của bài phát biểu được đọc lên vào thời điểm lịch sử khi khi thực dân Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ:

“Vào đúng thời khắc chuyển giao giữa hai ngày, khi thế giới vẫn còn đang say giấc, Ấn Độ sẽ bừng tỉnh với cuộc sống mới, tự do và độc lập. Đây là thời khắc hiếm hoi trong lịch sử, vì chúng ta đang thoát khỏi những ràng buộc của quá khứ để bắt đầu một cuộc sống mới. Đây cũng chính là thời điểm linh hồn của dân tộc vốn bị chà đạp suốt một thời kỳ dài tìm thấy tiếng nói, vị thế và sức mạnh….Hôm nay, chúng ta đã đặt dấu chấm hết cho một giai đoạn lịch sử đau thương. Và Ấn Độ một lần nữa đã tìm thấy chính mình”…

Ngày 26/1/1950, Hiến pháp mới của Ấn Độ được thông qua, Nehru trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ.

Gây dựng diện mạo mới cho Ấn Độ hiện đại

Làm sao có thể phát triển được kinh tế Ấn Độ, làm sao tiến hành được công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là những câu hỏi lớn nhất ám ảnh Thủ tướng J.Nehru kể từ sau ngày ông nhậm chức. Ông nhận thức rõ Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn, đông dân, có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, thị trường trong nước đủ lớn để phát triển công nghiệp hiện đại. Theo Nehru, đây chính là điều kiện căn bản để xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh có các ngành công nghiệp – nông nghiệp hiện đại, hoa học kỹ thuật tiên tiến và dựa vào sức mình là chính.

Song chính M.Gandhi – người bạn chiến đấu, người đã từng kề vai sát cánh với Nehru trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho Nam Á – lại là người phản đối quyết liệt nhất chủ trương công nghiệp hóa của Nehru. Gandhi đề cao vai trò của phát triển nông nghiệp nông thôn và tiểu thủ công nghiệp. Ông sợ máy móc hiện đại sẽ hất con người ra lề đường, làm tăng nạn thất nghiệp và bất công trong xã hội.

Trước sự phản đối dữ dội của Gandhi, Thủ tướng Nehru vẫn kiên trì bảo vệ quan điểm của mình. Ông nhấn mạnh, nhiệm vụ then chốt của Ấn Độ là phải thực hiện một cuộc đại phẫu nhằm cải biến căn bản khoa học-kỹ thuật, đưa lĩnh vực này thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu và biến nó trở thành thế mạnh của một Ấn Độ mới.

Ngày 23/5/1956, phát biểu trước Nghị viện Ấn Độ về Kế hoạch 5 năm lần thứ 2, Thủ tướng Nehru khẳng định: “Nhắc đến kế hoạch hóa, chúng ta phải nhắc đến ý nghĩa công nghiệp của khái niệm này. Bởi lẽ, sự phát triển của khoa học – công nghệ đã giúp con người có thể sản xuất ra những của cải mà không một ai có thể tưởng tượng được. Đó chính là điều đã làm cho các nước khác hùng mạnh và giàu có. Không còn con đường nào khác. Nếu muốn tiến lên, Ấn Độ nhất định phải tiến lên trong khoa học và công nghệ, Ấn Độ phải sử dụng những công nghệ mới nhất”.1

Từ những lập luận trên đây, Thủ tướng Nehru đi đến kết luận: “Phát triển khoa học – kỹ thuật là một tất yếu và không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, không vì thế mà nó sẽ gây ra sự bần cùng và bất hạnh. Sự lạc hậu về khoa học và công nghệ là căn nguyên gây ra sự nghèo khổ của Ấn Độ. Do đó, bằng cách việc cải tạo sự lạc hậu này, không những chúng sẽ mang lại sự giàu có cho người dân nghèo Ấn Độ, mà còn tạo thêm việc làm cho họ”.2

60 năm về trước, Gandhi hay bất kỳ ai đều có thể hoài nghi quan điểm trên đây của Thủ tướng Nehru. Bởi có lẽ, trong giai đoạn ấy không hẳn nhà lãnh đạo nào cũng có được quan điểm và tầm nhìn chiến lược như thế.

Tuy nhiên, 60 năm sau ngày độc lập, giờ đây nhắc đến Ấn Độ, người ta có thể lập tức liên tưởng đến siêu cường phần mềm máy tính – lĩnh vực công nghiệp mũi nhọn của quốc gia Nam Á. Với những khu công nghệ cao như Bangalore cùng với những tập đoàn danh tiếng như Wipro…công nghiệp phần mềm Ấn Độ đã trở thành mô hình kiểu mẫu cho sức mạnh và sự thành công.

Người đặt nền móng cho thành công ấy của Ấn Độ không ai khác chính là Thủ tướng Nehru. Với định hướng phát triển công nghiệp hiện đại và khoa học – công nghệ, ông đã trở thành người gây dựng diện mạo mới cho Ấn Độ hiện đại.

… và người bắc cầu cho quan hệ Việt-Ấn

Thủ tướng Jawaharlal Nehru (trái) và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Corbis.

Ngày 17/10/1954, Thủ tướng Nehru đã thăm chính thức Việt Nam. Chuyến đi đã góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ hữu nghị giữa 2 nước sau này.

Thủ tướng Nehru luôn đánh giá cao và nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng mang tính chiến lược của mối quan hệ Việt Nam – Ấn Độ trong sự trỗi dậy của Ấn Độ ở khu vực châu Á.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Ấn Độ luôn đồng tình, ủng hộ và tiếp sức cho nhân dân Việt Nam. Vào thời điểm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, Ấn Độ là một trong số những quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận Nhà nước Việt Nam. Các chính trị gia Ấn Độ đã lên án hành động của thực dân Anh vì đã sử dụng quân đội người Ấn Độ giúp Pháp ở mặt trận Nam Bộ.

Thủ tướng Nehru từng tuyên bố: “Phương châm chính sách của chúng ta là nỗ lực vì hòa bình Đông Dương. Chúng ta sẽ dùng tất cả trí não, lòng kiên nhẫn và tinh thần kiên quyết để thực hiện nhiệm vụ đó”.3

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thăm chính thức Ấn Độ theo lời mời của Thủ tướng Nehru. Và đến năm 1972, Việt Nam và Ấn Độ đã quyết định nâng cấp mối quan hệ ngoại giao 2 nước từ cấp Tổng lãnh sự thành cấp Đại sứ.

Được khởi đầu từ chuyến thăm của Thủ tướng Nehru, mối quan hệ Ấn Độ – Việt Nam ngày một được mở rộng hơn trên nhiều lĩnh vực. Hai nước liên tục trao đổi các đoàn ngoại giao cấp cao:

– Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Ấn Độ (1978 và 1980)

– Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Ấn Độ (1984)

– Thủ tướng R.Gandhi thăm Việt Nam (1985 và 1988)

– Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thăm Ấn Độ (1989)

– Tổng thống Ấn Độ thăm Việt Nam (1991)

– Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Ấn Độ (1992)

– Chủ tịch Quốc hội Việt Nam thăm Ấn Độ (1994)

– Thủ tướng P.V. Narasimha Rao thăm Việt Nam (1994)

– Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Ấn Độ (1997)

– Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Ấn Độ (1999)

– Thủ tướng Ấn Độ A.B. Vajpayee thăm Việt Nam (1/2001)

– Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Ấn Độ (2003).

– Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Ấn Độ (7/2007).

Thủ tướng Nehruu đã nỗ lực đặt viên gạch đầu tiên để xây lên mối quan hệ hữu nghị Việt – Ấn để các thế hệ lãnh đạo tiếp theo của Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục củng cố và tăng cường mối quan hệ này. Thực tế đã cho thấy, dù trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị Việt – Ấn vẫn là chiến lược nhất quán của các thế hệ lãnh đạo Ấn Độ và Việt Nam.

Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của
Thủ tướng Nehru:

Ngày sinh: 14/11/1889

Nơi sinh: Thành phố Allahabad

Là con trai của bà Swaroop Rani và ông Motila Nehru – nhà lãnh đạo kiệt xuất của phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ.

1905: Sang du học tại Anh

1912: Tốt nghiệp học đại học Cambridge, trở về Ấn Độ

1916: Gia nhập đảng Quốc đại, cưới bà Kamala

1924: Chủ tịch Hội đồng thành phố Allahabad

31/12/ 1929: Chủ tịch đảng Quốc đại

1936: Tái đắc cử chủ tịch đảng Quốc đại

3/6/1947: Tán thành kế hoạch chia Nam Á thành Ấn Độ và Pakistan

8/1942 – 1945: Bị bắt giam vì tham gia phong trào “Thực dân cút khỏi Ấn Độ – Hành động hay là chết”

15/8/1947: Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ

27/5/1964: Qua đời sau một cơn đau tim

Phùng Thảo
tổng hợp

Advertisements

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Không có bình luận

Comments RSS TrackBack Identifier URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

  • “Tôi không lo lắng về những gì các đối thủ cạnh tranh đang làm; Tôi chỉ lo lắng về những gì chúng tôi đang làm”

  • Lịch

    Tháng Tám 2007
    H B T N S B C
    « Th6   Th11 »
     12345
    6789101112
    13141516171819
    20212223242526
    2728293031  
  • Hình ảnh

  • Danh mục bài viết